• This is slide 1 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 2 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 3 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 4 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 5 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Tổng hợp thủ thuật PhotoShop..

1. Di chuyển layer với phím Control
Bạn không cần thiết phải chọn lệnh Move tool để di chuyển layer vòng quanh. Đơn giản nhất là bạn chỉ cần giữ phím Control (với người dùng Windows) hoặc phím Command (với người dùng Mac) và click rồi kéo trên layer đó bằng chon chuột

2. Ẩn các bảng Palettes với phím Tab 




Các bảng lệnh palettes có làm vướng bạn không? Bạn có thể ẩn chúng tạm thời bằng cách nhấn phím Tab. Để gọi chúng lại chỉ cần bấm lại phím Tab. 




3. Chọn lựa tất cả các pixel trên một layer 




Để chọn lựa tất cả các pixel (điểm ảnh) không trong suốt trên một layer (ngược với việc sử dụng "Select All" là chọn lựa toàn bộ layer), bạn hãy giữ phím Control (Windows) hoặc phím Command (Mac), rồi click trên layer đó trong bảng Layers Palette: 


4. Kích đúp chuột để mở các file ảnh 




Để mở một file ảnh trong Photoshop, bạn không cần thiết phải mất công chọn File > Open hoặc nhấn tổ hợp phím Control O - đơn giản bạn chỉ cần kích đúp chuột trên nền xám của cửa sổ Photoshop! 




5. Kéo thả các layer giữa các file ảnh 




Bạn có thể copy một layer từ file ảnh này sang file ảnh khác bằng cách click trên layer đó trong bảng Layers palette rồi sau đó kéo nó qua bên cửa sổ của file ảnh thứ hai rồi thả chuột: 


6. Chế độ toàn màn hình Full Screen 





Nếu bạn đang làm việc trên một hình ảnh lớn như một bức hình chẳng hạn, bạn có thể muốn nới rộng tối đa diện tích chỉnh sửa và vùng làm việc bằng cách nhấn phím F để chuyển qua một chế độ toàn màn hình (full screen) mà không có menu bar, và chế độ biên tập vẫn bình thường. Nếu bạn cũng sử dụng mẹo thứ 2 ở trên, và các phím tắt, bạn sẽ làm việc rất nhanh mà không cần tới menu hoặc các bảng palette. Muốn trở về các chế độ bình thường lại nhấn lại phím F! 




7. Dịch chuyển layer bằng bàn phím 




Bạn có thể điều khiển chính xác vị trí của các layer bằng cách sử dụng các phím mũi tên trên bàn phím để di chuyển các layer từ từ. Giữ phím Control (Windows) hoặc phím Command (Mac) rồi dùng phím up, down, left hoặc right để di chuyển layer mỗi lần một 1 pixel. Để di chuyển layer mỗi lần 10 pixels giữ thêm phím Shift key và làm tương tự. 




8. Chọn màu nhanh 




Nhấn phím I để chọn công cụ Eyedropper tool, sau đó click lên một màu trên hình ảnh, nó sẽ là màu sử dụng để tô (foreground colour). Nhấn ALT và click để chọn màu nền (background colour). 




Bạn có thể cũng nhấn phím D để đưa màu tô và màu nền trở về các màu mặc định (đen và trắng), rồi nhấn phím X để chuyển đổi giữa màu tô và màu nền. 




9. Giữ cho đường vẽ được thẳng 




Bạn có thể ép chuột di chuyển theo các góc gần nhất, hay dùng nhất như 45 độ hoặc 90 độ bằng cách giữ phím Shift trong khi click và kéo chuột. Công việc này được sử dụng cho rất nhiều công cụ như Paintbrush Tool, Line Tool và Move Tool. Rất tốt cho việc vẽ đường thẳng! 


10. Bạn muốn mở nhiều file ảnh cùng lúc : 

Bạn mởthư mục ảnh ra quét chọn hết các ảnh cần mở ,nắm chuột kéo thả vào màn hình photoshop là được

Hình ảnh này đã được thay đổi kích thước. Click vào đây để xem hình ảnh gốc với kích thước là 1366x768

 

11. Bạn muốn xử lí nhanh các file ảnh Sử dụng công cụ cur12ves trong photoshop : 
Bạn muốn xử lý qua lại giữa 2 ảnh ,bạn nhấn phím tắt Ctrl+Tab,nhảy qua lại giữa 2 ảnh ,khỏi mất công mở rồi tắt mở mất thời gian. 

12. Sử dụng công cụ curves trong photoshop :
Tác dụng không thể thiếu của Adobe Photoshop đối với ảnh số có lẽ không cần phải nói nhiều. Với những công cụ chuyên nghiệp hiệu chỉnh chi tiết về ánh sáng, màu sắc, thậm chí là thay đổi hình dạng, phù phép cho ảnh số; thực sự Photoshop là hành trang không thể thiếu trong nhiếp ảnh cũng như thiết kế, in ấn. Nhưng nếu bắt buộc phải từ bỏ hết các công cụ hiệu chỉnh trong Photoshop chỉ giữ lại duy nhất 1 công cụ, phải chọn công cụ nào đây?

Đó chính là Curves.
 

Curves có những tác dụng gì?
 

____________________________________
 

Trước khi tìm hiểu sâu hơn về Curves, có lẽ cần phải đi qua một số khái niệm đơn giản về màu RGB - hệ màu mặc định mà chức năng Curves sử dụng.
 

Những tác dụng mà Curves tạo nên có thể gây ảnh hưởng riêng biệt đến 4 kênh màu: RGB, R, G và B. Trong đó mặc định là kênh RGB (trắng), và có thể chuyển đổi qua các kênh riêng khác: R (đỏ), G (xanh lá) và B (xanh dương). Điều này là dễ hiểu bởi 3 màu cơ bản đỏ, xanh lá và xanh dương khi hoà trộn vào nhau sẽ cho màu trắng. Như vậy có nghĩa là nếu chỉnh Curves ở kênh RGB thì sẽ có tác dụng thay đổi sáng/tối trên cả 3 màu cơ bản của tấm hình (nhưng vì hoà trộn vào sẽ được màu trắng nên mắt người chỉ nhận thấy tấm ảnh sáng đều hoặc tối đều từ đen tới trắng mà thôi). Nếu chỉnh Curves trên một kênh màu riêng thì sẽ chỉ có tác dụng sáng/tối trên phạm vi kênh màu đó. Ví dụ, chỉnh Curves trên kênh Red thì chỉ có những phần (cụ thể là những pixel) có sắc độ liên quan tới màu đỏ mới thay đổi độ sáng, tối - các sắc độ khác giữ nguyên.
 

Dựa vào biểu đồ pha trộn màu trên đây, có thể hiểu rõ hơn điều vừa viết. Ngoài ra nhờ biểu đồ này ta có thể nhận biết rõ vị trí của màu Cyan (trộn giữa xanh dương và xanh lá), Magenta (trộn giữa đỏ và xanh dương), Yellow (trộn giữa đỏ và xanh lá). Ba màu này (chính là Xanh Ngọc, Tím và Vàng) được ứng dụng rất nhiều trong các công cụ chỉnh màu của Photoshop.


Phạm vi sắc độ (Tonal Range) là gì?
 

____________________________________
 

Phạm vi sắc độ của một tấm ảnh (Tonal Range) có thể hiểu đơn giản là một dải giá trị thể hiện mức độ sáng/tối, chạy từ điểm màu có giá trị tối nhất tới điểm màu có giá trị sáng nhất của tấm ảnh đó.
 

Khái niệm Tonal Range là điều cần thiết nên biết để sử dụng tốt Curves. Thông thường điểm màu có giá trị tối nhất của mỗi tấm ảnh chưa chắc đã là màu đen, và điểm màu có giá trị sáng nhất chưa chắc là màu trắng; tuy nhiên một tấm ảnh tốt thì điểm tối nhất thường là màu đen và điểm sáng nhất là màu trắng. Khi độ tương phản đủ cao thì tấm hình trở nên rõ ràng dễ nhìn hơn. Đó là lý do phải dùng đến Curves.
 

Ví dụ:
 

Hình 1 (Phạm vi sắc độ hẹp)
______
Hình 2 (Phạm vi sắc độ rộng)
Trong hai hình trên, hình bên trái có dải phạm vi sắc độ hẹp, điểm tối nhất cũng chẳng tối lắm mà điểm sáng nhất cũng không sáng hẳn, vậy nên độ tương phản tổng thể thấp, hình rất khó nhìn. Hình bên phải có phạm vi sắc độ trải từ tối nhất (đen) tới sáng nhất (trắng), hình ảnh cải thiện hơn.


Tổng quan về hộp công cụ Curves
 

____________________________________
 


Như đã biết có 2 cách chỉnh Curves, đó là:
 

Images → Adjustments → Curves... (hoặc Ctrl + M) 

Layer → New adjustment layer → Curves... (hoặc creat adjustment layer ở Layer Palette)
Tuy nhiên trong đa số trường hợp ta nên chọn cách thứ 2 (adjustment layer) vì có thể chỉnh sửa hay xoá tiện lợi hơn mà không ảnh hưởng đến layer gốc, nên trong bài viết này cũng chỉ đề cập đến Curves ở trong Adjustment layer box.
Curve có nghĩa là đường cong, về mặt cơ bản, công cụ Curves cho phép ta chỉnh sửa độ sáng của màu sắc thông qua việc điều chỉnh một đường đồ thị. Đường này là tập hợp các giá trị sắc độ của hình ảnh từ tối nhất (đen) tới sáng nhất (trắng). Khi chưa chỉnh sửa gì, đường đồ thị đó là một đường thẳng, sau khi chỉnh sửa nó sẽ thành một (hoặc nhiều) đường cong.

Hình bên mô tả đường Curves mặc định, khi chỉnh sửa nên ngầm phân chia giá trị các sắc độ thành những khoảng khác nhau: Sáng nhất (White point), Sáng (Highlights), Trung tính (Midtones), Tối (Shadows) và Tối nhất (Black point); sau đó đánh giá tấm hình để tự đưa ra quyết định nên tăng hay giảm giá trị sắc độ ở khoảng nào.
 

Click chuột lên một điểm bất kỳ trên đường Curves, sẽ xuất hiện một dấu chấm tại điểm đó. Ta có thể giữ chuột và thay đổi vị trí điểm đánh dấu đó để thay đổi sắc độ. Cũng như mọi đồ thị khác, đồ thị Curves cũng có cột giá trị X và Y, ở đây là Input và Output.
 

Input được hiểu là dải giá trị sắc độ của hình ảnh trước khi chỉnh sửa, Output là dải giá trị sắc độ của hình ảnh sau khi chỉnh sửa. Khi chưa chỉnh sửa, đường Curves đi thẳng từ tối nhất lên sáng nhất, tại mọi điểm trên đường Curves, ta có Input=Ouput (X=Y)

Cơ chế hoạt động của Curves:
 

____________________________________
 


Di chuyển điểm đánh dấu trên đường Curves. Sau khi di chuyển, những điểm màu mang giá trị sắc độ tương ứng trên dải Input sẽ biến đổi (sáng hơn hoặc tối hơn) thành giá trị tương ứng trên dải Ouput.
 

Hình minh hoạ cho cơ chế của Curves. Cùng một mục đích với công cụ Level, nhưng Curves mềm dẻo hơn rất nhiều, có thể tạo tối đa 14 điểm chỉnh sửa trên đường Curves (ngoài 2 điểm đầu và cuối).

Các nút và chức năng trong Curves box
 

____________________________________
 


S-Curves và Inverted S-Curves
 

____________________________________
 


Chỉnh Curves theo hình chữ S và theo hình chữ S ngược là 2 kiểu thông dụng nhất. Bởi thông thường trong đa số trường hợp, chỉ có 2 mục đích chính là tăng hoặc giảm độ sáng (hay tương phản) của tấm ảnh một cách đồng đều. Trừ khi người thiết kế muốn chỉnh ảnh theo một mục đích quái dị.
 

Chỉnh Curves theo hình chữ S làm giảm độ tương phản ở các khoảng Shadows và Highlights, đồng thời tăng độ tương phản ở Midtones, nên làm tăng độ tương phản tổng thể của tấm ảnh. Trong khi chỉnh Curves theo hình chữ S ngược lại cho kết quả ngược lại.
 


Chỉnh Curves theo hình chữ S

Biểu đồ (Histograms) và phạm vi sắc độ rỗng (Empty Tonal Range)
 

____________________________________
 


Như chú thích trong hình minh hoạ Curves box, nằm chìm phía trong đồ thị Curves là biểu đồ (Curves Histograms). Biểu đồ này thể hiện số lượng điểm ảnh (pixel) tại các khoảng sắc độ khác nhau. Bình thường khi chỉnh sửa ảnh có thể không mấy ai để ý tới biểu đồ này, tuy nhiên đối với những tấm hình có độ tương phản quá thấp, biểu đồ cung cấp cho chúng ta thông tin tuyệt vời để chỉnh sửa lại cho vừa đúng mà không sợ quá tay. Trong hình dưới đây, pixel tối nhất của tấm ảnh cũng chỉ màu xám một chút, và pixel sáng nhất của ảnh cũng không sáng hoàn toàn. Như đã biết ở các mục trên, tấm hình này được gọi là có phạm vi sắc độ hẹp. Tuy nhiên mức độ hẹp bao nhiêu thì phải xem biểu đồ mới chỉnh đúng được. Ở các tấm hình có Tonal Range hẹp như thế này, phía trước và phía sau đồ thị (trước điểm ảnh đầu tiên và sau điểm ảnh cuối cùng) thường có một khoảng trắng, vì không có điểm ảnh nào đạt sắc độ trong các khoảng đó cả. Khoảng trắng đó gọi là Phạm vi sắc độ rỗng (Empty Tonal Range).
 

Để cứu vãn tình thế, chỉ cần kéo điểm hiệu chỉnh trên đường Curves tại vị trí Black point (tối nhất) tới điểm bắt đầu của biểu đồ (Histograms), đồng thời kéo điểm White point (sáng nhất) lùi lại điểm cuối cùng của biểu đồ. Làm như vậy ta đã xoá bỏ các phạm vi sắc độ rỗng, và xác định lại điểm sáng nhất, tối nhất ở sắc độ hợp lý hơn.
 



Khắc phục Empty Tonal Range
 

Ngoài ra còn có một trường hợp hiếm gặp của Empty Tonal Range đó là khoảng trắng xuất hiện ở giữa biểu đồ, chia biểu đồ thành 2 khoảng về phía Shadows và Highlights, còn Midtones thì ít hoặc không có gì. Trường hợp này thực sự hiếm gặp và thường thấy ở những bức ảnh bị chỉnh sửa hỏng, tăng độ tương phản quá mức, các pixel quá tối hoặc quá sáng thì nhiều còn các pixel màu trung tính thì ít hoặc không có. Ở ảnh chụp gốc thì ít gặp trường hợp này vì hầu hết đều chỉ thiếu chứ không thừa tương phản bao giờ (trừ trường hợp dùng flash hỏng hoặc đặt chế độ White Balance không đúng). Khi gặp phải Empty Tonal Range ở giữa đồ thị, cách khắc phục là chỉnh thành hình chữ S ngược ở khoảng Midtones (cụ thể là khoảng bị Empty Tonal) để giảm Contrast nhằm cứu vãn tình thế. Tuy nhiên nếu ảnh chụp là file RAW thì mới có khả năng cứu, còn bằng file JPEG thì hầu hết là mất chi tiết ở những điểm sáng quá hoặc tối quá, khó mà cứu nổi.
 

Trường hợp này ít gặp hơn nên mình cũng chịu không có hình mình hoạ ^^!
 


Giảm bớt độ sáng gắt (Clipped Highlights)
 

____________________________________
 



Trong một số trường hợp chụp nguồn sáng mạnh (như mặt trời hoặc đèn cao áp) mà không có filter UV hoặc filter Polarizer, ảnh rất có thể sẽ bị sáng loá hoặc gắt, gây khó chịu cho người xem. Không những thế ảnh chụp ra còn trông không thật, nhìn cứ như tranh màu nước. Curves có thể điều chỉnh tốt việc này để vùng sáng gắt trên ảnh chuyển tiếp mượt mà hơn với các vùng xung quanh.
 

Thông thường có thể khắc phục trường hợp này bằng cách giảm độ dốc của đường Curves ở khoảng Highlight (sáng nhất), và tinh chỉnh thêm nếu không muốn các vùng khác thay đổi theo nếu cần.
 

Chỉnh Curves để giảm bớt độ sáng gắt

Điều chỉnh cân bằng màu (Color Balance)
 

____________________________________
 


Curves không chỉ dùng để chỉnh sáng tối, nó thực sự còn thay đổi được tông màu, điều chỉnh lại cân bằng giữa các kênh màu cho chuẩn hoặc pha màu tấm ảnh theo mục đích riêng. Sau khi chỉnh Curves chữ S, hoặc khắc phục Phạm vi sắc độ rỗng, màu ảnh luôn tươi tắn hơn, nhưng đó chưa phải là tất cả đối với Curves. Photoshop có hẳn một chức năng Color Balance riêng, nhưng ngay trong công cụ Curves ta có thể làm điều đó mà kết quả không kém khác một chút nào.
 

Như đã biết Curves có ảnh hưởng mặc định trên kênh màu RGB, nhưng có thể áp dụng riêng trên từng kênh màu R, G và B để tăng giảm sắc độ của từng kênh màu mà không ảnh hưởng đến kênh màu khác. Nguyên tắc chuyển màu trên từng kênh như sau:
 

- Kênh 
Red: tăng sáng được màu Đỏ, giảm sáng được màu Xanh ngọc (Cyan)
- Kênh 
Green: tăng sáng được màu Xanh lá, giảm sáng được màu Tím (Magenta)
- Kênh 
Blue: tăng sáng được màu Xanh dương, giảm sáng được màu vàng



Về bản chất, màu RGB gồm có 1 kênh màu pha trộn và 3 kênh đen trắng mang giá trị sắc độ của 3 màu Red, Green, Blue. Hình dưới đây minh hoạ lần lượt 4 kênh màu đó trong 1 tấm ảnh. Trong Photoshop, có thể bật Menu Windows → Channels... để so sánh rõ hơn sắc độ của từng kênh màu.




Trong nhiều trường hợp khi chụp ảnh ta gặp phải tình trạng bị ánh sáng phản chiếu vào ống kính gây lệch sắc thái ở một màu nào đó (hiện tượng ám màu). Khi đó vẫn chỉ với Curves, ta có thể điều chỉnh lại. Trong hình dưới đây, qua nhận định ban đầu có thể thấy ảnh bị ám màu xanh (Blue) một chút ở những vùng tối. Mở Channel Blue trong Curves ra, ta thấy ngay có một chút Empty Tonal Range ở khoảng Shadows, như vậy những vùng tối của ảnh không đen như bình thường mà lại xanh nhiều hơn. Áp dụng các cách tinh chỉnh đường Curves, có thể điều chỉnh lại ngay sau vài giây, kết quả cho nước ảnh nhìn có cảm giác trong hơn.
 

Khắc phục ảnh bị ám màu bằng Curves
Trong hình trên, ta thấy các phần Highlights của tấm ảnh đã đủ độ sáng, do vậy nên để nguyên không cần tăng thêm, chỉ giảm một chút ở vùng Shadows để viền thuỷ tinh ở phần chân chiếc cốc nét hơn một chút.


Chế độ hoà trộn cho Curves (Blending Modes)
 

____________________________________
 

Khi sử dụng Adjustment layer cho Curves, ta còn có thể quy định ảnh hưởng của Curves chỉ có tác dụng trên màu của ảnh (Color) hoặc chỉ trên Độ sáng tối của ảnh (Luminosity). Dùng các Blending Modes (chế độ hoà trộn) cho Adjustment layer để thực hiện điều đó, cụ thể là blend mode Color và blend mode Luminosity. Khi chọn blend mode là Color thì Curves chỉ có tác dụng trên các kênh màu R, G, B (tức là độ sáng tối cho các kênh màu); còn khi chọn Luminosity thì Curves chỉ có tác dụng trên kênh chung RGB (sáng đều và tối đều nhau).

Có thể hiệu chỉnh cùng Blend Mode tinh tế hơn nhờ thay đổi Opacity của Adjustment layer.
 

Trên đây là những điều cần biết về công cụ Curves trong Photoshop. Trong lúc viết bài này, mình cũng thực hành không ít vì phải làm ảnh minh hoạ ^^, áp dụng thực tế một chút sẽ thấy dễ hiểu hơn nhiều. Ứng dụng của Curves có lẽ còn xa hơn những điều viết bên trên, tuỳ thuộc vào cảm quan đánh giá và sự linh hoạt của người sử dụng. Tuy nhiên muốn làm gì cho tốt thì trước tiên nên hiểu rõ về nó. Công cụ Curves mới đầu khó hiểu là vậy nhưng thực ra cũng chỉ xoay quanh nguyên lý sáng tối với những màu cơ bản, vận dụng tốt Curves chắc chắn sẽ mang lại kết quả cao và tiết kiệm thời gian trong xử lý hậu kỳ ảnh số.
 

Cuối cùng, một số chú ý nhỏ:
 

- Hãy thực hành Curves với ảnh mới chụp, đừng làm trên ảnh đã xử lý rồi
 

- Để hiệu quả thể hiện rõ rệt hơn, hãy chuyển sang chế độ màu 16 bit (Image → Mode → 16 Bits/Channel)
 

- Curves mà dùng kết hợp với chế độ Lab Color thì còn nhiều hiệu quả bất ngờ khác nữa 
 

Tìm hiểu về hacker..

Nhờ các phương tiện thông tin đại chúng, giờ đây, hacker được mọi người biết đến như một cái gì đó đáng ghê tởm. Nhắc đến từ này là người ta lại nghĩ đến những kẻ hiểm độc, chuyên sử dụng máy tính đi tìm cách quấy nhiễu, lừa đảo, đánh cắp các thông tin và thậm chí có thể phá hủy nền kinh tế hay khởi động một cả một cuộc chiến tranh. Không thể phủ nhận rằng có những con sâu làm rầu nồi canh, nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong cộng đồng hacker.
Thuật ngữ “hacker” lần đầu tiên được sử dụng giữa thập kỉ 60. Hacker, bản chất là những lập trình viên – những người biết sử dụng các dòng lệnh máy tính. Họ đã tưởng tượng ra cách sử dụng máy tính mới, tạo ra các chương trình mà không ai khác có thể hiểu được. Họ là những người tiên phong trong nền công nghiệp máy tính, họ xây dựng nên mọi thứ, từ một phần mềm nho nhỏ tới cả một hệ điều hành. Với cách hiểu như thế, những ông trùm như Bill Gates, Steve Jobs, và Steve Wozniak đều là những hacker – họ đã thấy trước được những gì máy tính có thể làm được và tạo ra cách để hiện thực hóa những điều đó.
Các hacker đều có một điểm chung, đó là sự tò mò, hiếu kì mãnh liệt, đôi khi gần như là sự ám ảnh. Những hacker rất tự hào về các kỹ năng của mình, nhưng đồng thời họ cũng luôn mày mò, tìm tòi để khám phá ra những bí ẩn trong các phần mềm và hệ thống. Khi một phần mềm có bug – là một đoạn mã lỗi ngăn cản phần mềm hoạt động trơn tru – những hacker có thể tạo ra và phân phối những đoạn mã nhỏ để sửa những lỗi đó – chúng là những bản vá lỗi, những bản patch. Nhiều hacker coi công việc của họ như một sự thử thách, nơi họ thể hiện được bản lĩnh và kỹ năng của mình - họ sẵn sàng làm điều đó mà không cần đến bất kỳ đồng tiền lệ phí nào.
Cùng với sự phát triển của máy tính, những kĩ sư máy tính bắt đầu kết nối các máy tính riêng lẻ thành một hệ thống. Và không lâu sau, thuật ngữ “hacker” có một ý nghĩa mới – những người sử dụng máy tính để xâm nhập vào những mạng máy tính khác. Thông thường, những hacker không có mục đích xấu. Họ chỉ muốn biết xem mạng máy tính hoạt động như thế nào, những bức tường lửa kiên cố ra sao, và điều đó thực sự là một thử thách khó khăn nhưng cũng không kém phần thú vị với họ.
Thời gian trôi qua, nhưng có vẻ như bản chất của những hacker vẫn không hề thay đổi. Những kẻ chuyên đi phá hoại hệ thống máy tính, xâm nhập vào các mạng máy tính khác và phát tán virus, phần lớn họ làm điều đó để thỏa mãn tính tò mò của mình. Họ muốn tìm hiểu từng đến từng ngõ ngách trong thế giới ảo bao la rộng lớn. Một số sử dụng tài năng và trí tuệ của mình để giúp đỡ các công ty và chính phủ xây dựng nên những bức tường an ninh kiên cố hơn. Một số khác sử dụng trong những việc phi đạo đức.
Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về những thủ đoạn hay được các hacker sử dụng, về những loại hacker khác nhau và những phi vụ làm chấn động thế giới của những tay hacker này.
Đồ nghề của hacker
Ngoài sự khéo léo và nhạy bén, những hacker còn phải dựa vào những dòng mã lệnh. Trong làng hacker không phải ai cũng biết tự viết ra cho mình những dòng mã lệnh. Rất nhiều hacker phải dựa vào những dòng mã lệnh do người khác viết ra. Thêm vào đó, hàng trăm hàng nghìn chương trình hỗ trợ hack khác nhau có thể dễ dàng được tìm thấy chỉ qua vài giây google. Những chương trình này đã cung cấp cho các tay hacker một lợi thế vô cùng lớn - chúng giúp hacker nắm rõ cấu trúc cũng như cách thức hoạt động của một hệ thống. Và khi đã có những thông tin cần thiết, những tay hacker có thể dễ dàng xâm nhập và mở tiệc liên hoan trong đó.
Hacker mũ đen thường sử dụng những chương trình sau:
Key logger
Một số chương trình có khả năng ghi lại mọi thao tác trên bàn phím của bạn. Một khi máy tính nạn nhân đã nhiễm phần mềm này, nó sẽ gửi thông tin nó thu nhận được tới chủ nhân của mình – các hacker, và từ đó cung cấp cho hacker những thứ cần thiết để xâm nhập hệ thống hay thậm chí đánh cắp thông tin cá nhân của bạn.
Hack mật khẩu
Có rất nhiều cách hack mật khẩu, bắt đầu bằng việc thử những từ có sẵn trong từ điển đến những thuật toán đơn giản để ghép các chữ cái, các số và các kí tự với nhau. Phép thử này được coi như một cách lấy thịt đè người - các hacker sẽ thử tất cả mọi tổ hợp có thể, cho đến khi tìm ra đúng mật khẩu. Một cách khác, sử dụng từ điển, thay vì tự ghép các ký tự với nhau, những phần mềm này sẽ sử dụng những từ có sẵn trong từ điển của nó để thử.
Lây nhiễm virus máy tính
Virus máy tính là những phần mềm được viết ra để tự nhân lên và phá vỡ hệ thống, hoặc tệ hại hơn nữa là thổi bay toàn bộ dữ liệu trong ổ cứng của bạn. Hacker có thể cài đặt một virus bằng cách xâm nhập thẳng vào hệ thống, nhưng để đơn giản hơn, các hacker viết ra một con virus, sau đó gửi cho nạn nhân qua email, tin nhắn nhanh, trang web có chứa mã độc hoặc qua mạng kết nối peer-to-peer (tạm dịch: mạng ngang hàng).
Thâm nhập từ cửa sau – backdoor
Giống như hack mật khẩu, một số hacker viết chương trình tìm ra những lỗ hổng bảo mật để xâm nhập vào hệ thống. Trong những ngày đầu khi xuất hiện Internet, hệ thống bảo mật của máy tính rất lỏng lẻo, điều này giúp các hacker dễ dàng tìm ra các lỗ hổng và xâm nhập hệ thống mà không cần đến username và password. Cách khác, hacker có thể xâm nhập backdoor bằng cách sử dụng Trojan - 1 thứ công cụ lợi hại, với tên gọi xuất phát từ điển tích nổi tiếng "Con ngựa thành Troia" trong thần thoại Hy Lạp. Trojan sẽ tự cải trang mình thành 1 phần mềm tỏ-ra-hữu-ích, nhưng thực tế, nó sẽ giúp hacker điều khiển máy tính của nạn nhân từ xa, thông qua hệ thống mạng.
Tạo ra các máy tính ma
Một máy tính ma – hay còn gọi là bot – là một máy tính mà hacker sử dụng để spam hoặc thực hiện các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DDoS). Sau khi nạn nhân vô tình kích hoạt những đoạn mã tưởng chừng như vô hại, một kết nối được mở ra giữa máy tính của nạn nhân và của hacker, từ đó hacker có thể âm thầm điều khiển máy tính nạn nhân, sử dụng chúng với mục đích xấu hoặc tiếp tục spam.
Xâm nhập vào email
Hacker sẽ tạo ra những đoạn mã có khả năng chặn và đọc trộm các email cũng như nghe trộm các cuộc điện thoại. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các chương trình email đều sử dụng các cách mã hóa rất phức tạp khiến cho các hacker dù có chặn được đường truyền nhưng cũng không thể đọc trộm được.
Trong phần sau, chúng ta hãy cùng điểm qua vài nét về văn hóa của những hacker.
Văn hóa của hacker
Hacker thường là những cá thể đơn độc, sống tách rời xã hội. Niềm đam mê mãnh liệt với chiếc máy vi tính và việc lập trình có thể tạo nên bức tường ngăn cách các hacker với những người xung quanh. Họ có thể ngồi hàng giờ bên chiếc máy vi tính và quên đi mọi thứ.
Mạng máy tính giúp các hacker làm quen với những người khác có cùng sở thích. Trước khi internet trở nên phổ biến, hacker phải cài đặt và truy cập vào Bulletin Board Systems (BBS) – nôm na là một hệ thống bảng thông báo. Một hacker phải tạo một BBS trên máy tính của họ và những người khác sẽ truy cập vào hệ thống đó để gửi tin nhắn, chia sẻ thông tin, chơi games hay tải các chương trình. Nếu các hacker tìm thấy nhau, thông tin trao đổi sẽ tăng đột biến.
Một số hacker thường post thành quả của mình lên BBS, tự sướng về việc vượt qua được những bức tường bảo mật kiên cố nhất. Thông thường họ sẽ tải lên một file nào đó trên máy của nạn nhân để chứng minh cho thành quả của mình. Đầu thập kỉ 90, luật pháp đã bắt đầu để ý đến sự đe dọa an ninh nghiêm trọng của các hacker. Trong quãng thời gian này, có vẻ như ngay cả những bức tường lửa kiên cố nhất cũng chỉ là trò trẻ con đối với những tay hacker chuyên nghiệp.
Hiện nay trên Internet có rất nhiều trang web nói về hack. Tờ báo “2600: The Hacker Quarterly” có trang web riêng của mình, trong đó mọi người chủ yếu thảo luận về hack. Nếu không có thời gian lướt web bạn vẫn có thể mua báo giấy của họ nếu muốn. Những trang web khác như Hacker.org đẩy mạnh việc tìm hiểu và học tập các kỹ thuật hack, ngoài ra còn có cả những câu đố và những cuộc tranh tài cho các hacker để kiểm tra các kỹ năng của mình.
Khi bị bắt, hầu hết các hacker đều thừa nhận rằng, hành vi của mình có thể gây nên những hậu quả tai hại. Bản thân họ không hề muốn gây chuyện; ngược lại, họ tấn công vào các hệ thống chỉ để thỏa mãn trí tò mò của mình. Xâm nhập vào một hệ thống được bảo mật tốt không khác gì leo lên đỉnh Everest, đó là những thách thức thực sự. Ở Mỹ, các hacker có thể bị sờ gáy dù họ mới chỉ dừng lại ở mức truy cập vào một hệ thống khác.
Nhưng không phải tất cả các hacker đều có hứng thú với việc này. Một số sử dụng tài năng và hiểu biết của mình để tạo ra những chương trình bảo mật tốt hơn. Trong thực tế, khi đã xâm nhập được vào một hệ thống thì nhiều hacker có thể viết một chương trình giúp tăng tính bảo mật cho hệ thống đó. Nói một cách khác, Internet là một cuộc chiến đấu giữa 2 nhóm – một bên là những hacker mũ đen, luôn lăm le xâm nhập trái phép và phát tán virus; và một bên là những hacker mũ trắng, luôn tìm cách nâng cao khả năng bảo mật và tạo ra những chương trình diệt virus hiệu quả.
Dù ở bên nào, các hacker luôn được hỗ trợ bởi những phần mềm mã nguồn mở - đúng như tên gọi của nó, mọi người đều có thể có mã nguồn của phần mềm, có thể sao chép, thay đổi,... và học hỏi kinh nghiệm của người khác; từ đó có thể hoàn thiện thêm sản phẩm của mình, từ những chương trình tí hon cho tới cả một hệ điều hành như Linux.
Hàng năm người ta tổ chức rất nhiều sự kiện để nói về hacker, thường mang mục đích tốt. Một hội nghị thường niên tại Las Vegas có tên là DEFCON thu hút hàng nghìn người tham gia, qua đó người ta có thể trao đổi, thi tài hay tham gia vào các cuộc tranh luận về hack cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin... tất cả nhằm thỏa mãn sự tò mò hiếu kì của bản thân. Một sự kiện tương tự có tên là Chaos Communication Camp mà ở đó, người ta ở trong những túp lều thô sơ và thảo luận về những thứ liên quan tới công nghệ hiện đại.
Trong phần sau, chúng ta hãy tìm hiểu thêm về hacker và vấn đề pháp lý liên quan.
Hacker và Luật pháp
Hacker thực sự là một nỗi khiếp sợ đối với những nhà cầm quyền. Họ có khả năng xâm nhập một hệ thống mà không để lại dấu vết gì, ăn cắp các thông tin nhạy cảm mà một khi phát tán ra, đó có thể là cơn ác mộng cho cả hệ thống chính quyền. Bởi vậy, chính phủ sẽ không mất thời gian để tìm hiểu xem bạn chỉ là một tay hacker rỗi hơi hoàn toàn vô hại, hay một tên gián điệp thực thụ.
Luật pháp đã phản ánh rõ điều này. Tại Mỹ, có rất nhiều điều luật được đặt ra để ngăn cấm hack. Ví dụ như 18 U.S.C $1029, tập trung vào việc tạo ra và phát tán những đoạn mã hay các thiết bị hỗ trợ cho việc truy cập trái phép vào máy tính khác. Tuy nhiên pháp luật chỉ đề cập về việc chế tạo và sử dụng những thiết bị này vào mục đích phi pháp, nên khi bị bắt, hacker có thể phản pháo rằng anh ta chỉ sử dụng thiết bị này vào mục đích kiểm tra độ an toàn của hệ thống.
Một luật quan trọng khác là 18 U.S.C $1030, trong đó có nhắc đến việc truy cập vào máy tính của chính phủ. Dù bạn xâm nhập vào hệ thống đó với bất kể với mục đích gì, bạn đã chắc chắn có một suất trong trại giam vì tội truy cập trái phép hệ thống bảo mật của chính phủ.
Có nhiều mức án phạt khác nhau, từ phạt tiền cho đến ngồi tù. Trẻ vị thành niên có thể bị quản thúc tại nhà ít nhất là 6 tháng, với những đối tượng khác, hình phạt có thể lên tới 20 năm. Sở Tư pháp đã nghĩ ra cách tính liên hệ giữa thiệt hại về tài chính, số lượng nạn nhân với thời gian phạt để có một hình phạt xác đáng.
Một số nước khác có các luật tương tự, nhưng ở nhiều nơi, luật pháp tỏ ra khá mơ hồ. Ví dụ như ở Đức, gần đây người ta ra luật “cấm sở hữu các công cụ của hacker”. Nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng luật này quá rộng, nhiều ứng dụng hợp pháp có thể bị coi là công cụ hỗ trợ hacker. Một số chỉ ra rằng, một công ty có thể phạm luật khi thuê một hacker để kiểm tra lỗ hổng an ninh trong hệ thống của mình.
Hacker có thể ngồi ở một nơi nào đó và tấn công vào hệ thống ở những quốc gia cách xa hắn nửa vòng trái đất. Vậy nên việc truy tố những thủ phạm của cuộc tấn công trở nên rất phức tạp. Một số nước có kiến nghị về việc trao trả nghi phạm để xử phạt, và quá trình này mất rất nhiều thời gian. Đơn cử như một trường hợp cực kì nổi tiếng ở Mỹ, đó là bản cáo trạng của hacker người Anh có tên Gary McKinnon. Từ năm 2002, McKinnon bị yêu cầu phải đưa sang Mỹ để xét xử việc xâm nhập trái phép vào hệ thống máy tính của Bộ Quốc phòng và của NASA. McKinnon, người thực hiện những cuộc tấn công từ Anh quốc, đã kháng án bằng cách tuyên bố rằng anh ta chỉ đơn thuần phát hiện và chỉ ra những sai sót trong hệ thống bảo mật. Tháng 4 năm 2007, tòa án Anh đã bác bỏ đơn kháng án của anh ta.
Trong phần sau, chúng ta hãy cùng nhau điểm qua gương mặt của một số hacker nổi tiếng.
Những hacker đình đám trong giới công nghệ
Steve Jobs và Steve Wozniak – 2 người sáng lập nên Apple – đều là những hacker. Ban đầu, họ hoạt động giống như những hacker mũ đen, nhưng sau đó họ đã thay đổi ý nghĩ và tập trung vào việc tạo ra các phần cứng và phần mềm máy tính. Nỗ lực của 2 người đã giúp mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên của máy tính cá nhân, khi mà trước đó, những hệ thống máy tính chỉ dành cho các công ty lớn, chúng quá đắt đối với người dùng thông thường.
Linus Torvalds, người sáng lập Linux, cũng là một hacker nổi tiếng. Hệ điều hành mã nguồn mở của ông trở nên rất phổ biến trong giới công nghệ. Ông đã góp phần tạo nên những khái niệm về phần mềm mã nguồn mở, và cho chúng ta thấy rằng, khi chia sẻ thông tin với người khác, chúng ta có thể gặt hái những lợi ích không tưởng.
Richard Stallman, được biết đến với cái tên “rms”, người sáng lập ra dự án GNU – một hệ điều hành miễn phí. Ông là người ủng hộ cho phần mềm miễn phí và những quyền truy cập hợp pháp. Ông làm việc cho các tổ chức như Free Software Foundation và phản đối các chính sách như Digital Right Management – Quản lý bản quyền kĩ thuật số.
Và cũng như thế, trong thế giới hacker mũ đen cũng có rất nhiều người có tên tuổi. Ở tuổi 16, Jonathan James đã trở thành hacker đầu tiên bị bắt giam, sau khi đã thừa nhận việc xâm phạm trái phép trên rất nhiều hệ thống, bao gồm cả NASA và máy chủ của Cơ quan giảm thiểu đe dọa Quốc phòng. Trên thế giới trực tuyến, Jonathan sử dụng nickname “c0mrade”. Ban đầu bị kết án quản thúc tại gia, nhưng sau đó James đã bị tống vào trại giam vì tiếp tục có những hành vi khiêu khích giới chức trách.
Kevin Mitnick trở nên nổi tiếng vào những năm 80 sau khi ông bị buộc tội đã đột nhập vào hệ thống của Tổng tư lệnh phòng không không quân Bắc Mỹ (NORAD) khi mới 17 tuổi. Mitnick trở nên nổi như cồn với những câu chuyện được kể lại về những chiến tích của mình, và cả tin đồn rằng cái tên Mitnick đã xuất hiện trong danh sách truy nã của FBI. Thực tế, Mitnick đã bị bắt nhiều lần vì tội danh xâm nhập trái phép hệ thống bảo vệ để truy cập vào mọi phần mềm máy tính.
Kevin Poulsen, hay Dark Dante, nổi tiếng trong lĩnh vực tấn công vào hệ thống điện thoại. Ông đã xâm nhập vào hệ thống radio có tên KIIS-FM, qua đó chỉ cho phép những cuộc gọi bắt nguồn từ nhà ông ta đến trạm radio trung tâm, từ đó giúp ông giành được rất nhiều giải thưởng trong những cuộc cuộc thi qua radio. Sau vụ đình đám này, ông đã cải tà quy chính, và bây giờ hiện ông đang là biên tập viên chính của báo Wired.
Được biết đến với biệt danh “homeless hacker”, Adrian Lamo sử dụng máy tính của thư viện hay máy tính tại quán cafe để thực hiện việc tấn công của mình. Anh khai thác các lỗ hổng bảo mật, qua đó xâm nhập vào hệ thống và để lại một tin nhắn thông báo về lỗ hổng đó. Không may cho Lamo, mục đích thì có vẻ tốt nhưng những hành động đó là những hành động phạm pháp. Anh cũng hay đi rình mò, đọc trộm các thông tin nhạy cảm và truy cập vào các tài liệu bí mật. Anh đã bị bắt sau khi đột nhập vào hệ thống máy tính của tờ New York Times.
Đó chỉ là một phần rất rất nhỏ trong thế giới Hacker. Còn rất nhiều những tên tuổi vô danh khác, nhưng chúng ta không thể biết được con số cụ thể. Nhiều người không định hình được việc mình đang làm – họ sử dụng những công cụ mà họ không thực sự hiểu chúng. Một số khác, biết rõ những gì mình đang làm, và họ có thể xâm nhập vào một hệ thống mà không để lại dấu vết gì.
Những điều có thể bạn chưa biết về hacker
Super Phreak
Trước thời của hacker máy tính, đã có một số cá nhân hiếu động và thông minh, đã tìm cách vận hành hệ thống điện thoại theo cách có tên là “phreaking”. Thông qua phreaking, họ có thể gọi điện đường dài mà không phải trả phí hay đôi khi chơi khăm những người sử dụng điện thoại khác.
Cuộc sống của các hacker
Những hacker tuân theo luật pháp có thể có một cuộc sống êm thấm. Rất nhiều công ty bỏ tiền ra thuê các hacker để kiểm tra mức độ bảo mật của hệ thống. Một số hacker có thể làm giàu bằng cách viết những chương trình và ứng dụng hữu ích, ví dụ như 2 sinh viên của Đại học Stanford – Larry Page và Sergey Brin. Page và Brin đã cùng nhau tạo nên một công cụ tìm kiếm tuyệt vời mang tên Google Nhờ có nó, hiện nay họ đang được xếp hạng 26 trong top những tỷ phú giàu có nhất thế giới.

Nguồn :GenK

IP, Hostname, IP spoofing là gì?

1.Địa chỉ IP

Địa chỉ ip (internet protocol) là số xác định một thiết bị khi tham gia hệ thống mạng,và là số duy nhất khi bạn tham gia hệ thống mạng,số này có thể là động hoặc tĩnh (động là có thể thay đổi và tĩnh là không thể thay đổi đýợc)tuỳ vào nhà cung cấp dịch vụ,nếu bạn không đăng kí IP tĩnh với ISP (internet server provide)thì mặc định IP của bạn sẽ đýợc thay đổi mỗi khi bạn vào mạng.
 

IP cũng nhýđịa chỉ nhà bạn vậy,thay vào đó IP chính là địa chỉ máy bạn sử dụng để vào mạng,vì sao cần phải có IP khi tham gia vào mạng,đõn giản để xác định thiết bị và quản lý thiết bị khi tham gia vào mạng,và trên mạng IP sẽ xác định chính bạn
 
Bạn đặt ra 1 câu hỏi,từ IP có thể tìm ra đýợc chủ nhân của máy tính không?vì sao các hacker khi đột nhập vào hệ thống hay phát tán virus trên mạng vẫn có thể bị tóm,đõn giản vì các việc làm của bạn sẽ để lại dấu tích,từ IP ngýời quản trị có thể biết đýợc các thông tin máy của bạn nhý Netbios,MAC,từ IP sẽ tìm ra đýợc ISP của bạn ,nếu bạn sử dụng IP tĩnh và sử dụng tài khoản riêng của bạn...
Chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu về địa chỉ IP

2.IP được chia ra làm 4 lớp là A,B,C,D 


Địa chỉ IP đýợc chia thành 4 số thập phân giới hạn từ 0 đến 255 ,mỗi số đýợc đýợc lýu có kích thýớc là 1 byte vậy một địa chỉ IP có kích thýớc là 4 byte
 
Lớp A có địa chỉ từ 10.0.0.0 ---> 126.255.255.255 và tống số có đến 16 triệu địa chỉ
Lớp B có địa chỉ từ 128.0.0.0 -->191.255.255.255 và tổng số có đến 65536 địa chỉ 
Lớp C có địa chỉ từ 192.0.0.0 -->223.255.255.255 
Lớp D có địa chỉ từ 224.0.0.0 -->255.255.255.255
Lớp A chủ yếu là sở hữu của các tổ chức
Lớp B và lớp C là thuộc sở hữý của các máy tính tham gia trên mạng 
Lớp D chủ yếu sử dụng cho các máy tính đa truyền phát 
Các địa chỉ IP 127.0.0.0 --->127.255.255.255 là địa chỉ IP dùng cho máy chủ thực hiện trao đổi thông tin và phản hồi thông tin với nhau
Đến đây để rễ hiểu chúng ta làm 1 ví dụ nhỏ
bạn phát hiện 1 số IP trên mạng có địa chỉ là 140.25.0.0 bây giờ ta sẽ tìm hiểu xem IP đó thuộc lớp nào và ISP là gì?
ip 140.20.0.0 thuộc lớp B ta có tất cả các địa chỉ từ 140.20.0.0 ---->140.20.255.255 và ISP có địa chỉ IP lớp B là 140.20.xxx.xxx

3.Bây giờ chúng ta sẽ phân tích sự khác nhau giữa IP và hostname
 

Có 1 số trang website bạn vừa có thể truy cập bằng địa chỉ IP ,bạn cũng có thể truy cập bằng một cái tên ,hostname chính là tên website và IP là địa chỉ liên kết đến hostname ,thay vì bạn phải gõ địa chỉ IP bạn truy cập bằng hostname 

IP là số để xác định thiết bị,còn hostname dùng liên kết 1 từ khoá(địa chỉ website) với địa chỉ IP,đõn giản hostname dễ nhớ hõn IP ,do sử dụng ngôn ngữ giúp chúng ta nhớ một địa chỉ website hõn là một địa chỉ IP gồm toàn những dãy số,và một điều quan trọng nữa là một IP có thể có nhiều hostname khác nhau do chúng ta đăng kí,và một hostname chỉ có duy nhất một từ khoá liên kết đến địa chỉ IP

4.IP spoofing
 

Như bạn đã biết IP là số xác định thiết bị trên mạng,khi bạn muốn truy cập vào máy chủ nhưng lại muốn che dấu thông tin thiết bị của mình ip spoofing chính là thuật ngữ dùng đề fake(che dấu ) ip của bạn,mục đích truy cập vào máy chủ và che dấu thông tin của mình ,spoofing sẽ rất hữu hiệu khi bạn muốn vượt firewall hay đột nhập vào máy chủ ,sử dụng các việc làm muốn che dấu thông tin cá nhân .
 
Tuy nhiên tất cả các thông tin phản hồi lại địa chỉ IP spoofing là thông tin bạn không thể nhận đýợc,đõn giản đó không phải là ip của bạn
Trong bài tiếp theo chúng ta sẽ đề cập đến các cách sử dụng các chýõng trình để fake ip và che dấu thông tin khi bạn online trên mạng. 

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Phím tắt WIndow 8

Phím tắt WIndow 8

Consumer Preview với giao diện hoàn toàn mới mẻ và các phím tắt cũng vậy. Sua chua laptop Thiên Tâm gửi tới các bạn những tổ hợp phím tắt mới trong Windows 8 Consumer Preview. Hi vọng với danh cách các phím tắt này sẽ giúp bạn thao tác nhanh hơn trong phiên bản Windows mới này.

- Win + Print Screen: chụp ảnh màn hình, hình ảnh sẽ lưu tại thư mục LibrariesPictures
- Win + C: Mở thanh Charms Bar
- Win + Tab : Mở danh sách Switch List

- Win + Q : Mở giao diện tìm kiếm Metro
- Win + W : Mở giao diện tìm kiếm System Settings
- Win + F : Mở tìm kiếm Files
- Win + Z : Mở tùy chọn tùy chỉnh Metro Apps
- Win + I : Mở Settings Menu
- Win + P : Mở tùy chọn màn hình và thiết lập máy chiếu
- Win + H : Mở giao diện Share
- Win + K : Mở giao diện Devices Settings
- Win + X : Mở giao diện System Utility Settings Menu
- Win + T : Xem 1 cửa sổ thu nhỏ trên Taskbar
- Win + U : Mở giao diện tùy chỉnh Ease of Access Center
- Win + E : Mở Windows Explorer
- Win + R : Mở Run Dialogue Box
- Win + Pause : Mở cửa sổ System Properties
- Win + Enter : Mở Windows Narrator
- Win + Shift + . : Thu hẹp cửa sổ sang phải
- Win + . : Thu hẹp cửa sổ sang trái
- Win + , : Mọi cửa sổ đều trở nên trong suốt
- Win + D : Truy cập nhanh đến màn hình Desktop
- Win + M : Thu nhỏ tất cả ứng dụng
- Win + B : Quay lại Desktop
- Win + J : Di chuyển giữa các ứng dụng Metro
- Win + L : Khóa màn hình
- Win + Page Up/ Page Down : Chuyển đổi giửa màn hình chính và phụ
- Ctrl + Mouse Scroll ( tại giao diện Start Screen) : Phóng lớn màn hình
- Ctrl + Mouse Scroll (tại Desktop) : Thay đổi kích thức icon
- Ctrl + Shift+ N : Tạo thư mục mới trong thư mục hiện tại

Chia sẻ Wi-Fi mà không cần tiết lộ mật khẩu

Chia sẻ Wi-Fi mà không cần tiết lộ mật khẩu



Đôi khi bạn muốn chia sẻ Wi-Fi với bạn bè để truy cập mạng Internet, điều này đồng nghĩa với việc bạn phải cung cấp mật khẩu cá nhân. Tuy nhiên, vì lý do bảo mật bạn lại không muốn tiết lộ mật khẩu Wifi của mình. Trong trường hợp này, bạn phải làm thế nào ? Bài viết này sẽ giúp bạn giải quyết ổn thỏa rắc rối đó, đảm bảo vừa không mất lòng bạn bè, vừa giữ được bí mật mật khẩu Wifi.

Giải pháp hữu ích cho vấn đề này là tạo ra một mã QR sử dụng id mạng và mật khẩu của bạn. Để làm được việc này, trước hết bạn cần truy cập vào một trang web có khả năng tạo mã QR cho mạng Wifi. Bạn có thể vào một trong hai trang web sau đây:
QrZilla: http://www.qrzilla.com/ 
Zxing: http://zxing.appspot.com/generator/ 
Sau khi truy cập một trong hai trang web ở trên, bạn cần phải nhập một số chi tiết như: kiểu mã hóa mạng (Encryption type), tên mạng SSID (Network Name), mật khẩu (Password), loại mã hóa (Encoding), lỗi cấp (Error level). Một khi thực hiện nhập và lựa chọn với tất cả những chi tiết này, bạn có thể nhấn vào nút Generate.
Chờ tiến trình thực thi hoàn tất, bây giờ bạn đã có một mã QR mạng Wifi riêng của mình. Đây là Mã QR bạn cần phải cung cấp cho bạn bè, họ chỉ cần quét mã QR này với một máy quét mã vạch trên điện thoại Android, ngay lập tức sẽ có thể kết nối với mạng Wifi của bạn mà không có bất kỳ trở ngại nào. 
Tóm lại, có thể nói đây là một cách an toàn để chia sẻ mạng Wifi của bạn, nó thực sự là một giải pháp tuyệt vời và hoạt động khá tốt trên điện thoại di động Android.